Tìm kiếm
Liên kết web
Thăm dò ý kiến
Bạn đã từng sử dụng sản phẩm của Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao chưa?
Sử dụng nhiều
Đã sử dụng
Chưa sử dụng
Thống kế truy cập
Đang online : 6
Lượt truy cập : 209744
 
Hotline
0210.3825139
Khoa học kỹ thuật
CÔNG TRÌNH ĐẠT GIẢI THƯỞNG VIFOTEC

CÔNG TRÌNH ĐẠT GIẢI THƯỞNG

 SÁNG TẠO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIFOTEC

I- Công trình: Nghiên cứu các giải pháp công nghệ và cải tiến thiết bị để sử dụng quặng apait tuyển có độ ẩm thích hợp đưa vào điều chế Supe phốt phát vượt công suất thiết kế.

Nhóm tác giả công trình:

KS. Nguyễn Xuân Thúy; KS. Nguyễn Quốc Lập; KS. Nguyễn Văn Loan; KS. Quách Đình Diệu; KS. Đỗ Anh Điểm; KS. Phạm Văn Thọ; KS. Phan Anh Hùng.

Công trình đã được Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam trao tặng Giải Nhì Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2000.

Nội dung cơ bản của công trình:

Theo thiết kế, nguyên liệu đưa vào điều chế Supe lân là quặng apatit nguyên khai loại I qua sấy nghiền tới độ ẩm 2% H2O.

Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu sử dụng quặng tuyển có độ ẩm 18 - 20% H2O để sản xuất Supe lân mà không cần phải sấy tại công ty Apatit Lào Cai.

Để thực hiện được giải pháp này công ty đã tiến hành cải tạo một số thiết bị trong dây chuyền sản xuất Supe lân: Cải tạo thùng sấy và lập công nghệ sấy quặng tuyển ẩm 18% H­O xuống 8 - 9% H2O; Thiết kế lắp đặt hệ thống băng tải để trộn quặng apatit tuyển ẩm 8% H­O với quặng nguyên khai qua sấy nghiền; Thay đổi thiết kế thùng trộn: tăng thể tích thùng trộn từ 3,5 m3 lên 4,5 m3 để đảm bảo thời gian lưu của bùn sệt ở thùng phản ứng, tăng số que trộn của thùng phản ứng từ 3 lên 4 que, đồng thời thay đổi vận tốc các que trộn hợp lý để tăng hệ số phân hủy sau thùng trộn lên 78 - 79%. Tăng số vòng quay của thùng hóa thành từ 110 phút/vòng lên 90 phút/vòng, do đó đã tăng được năng suất thùng hóa thành lên 10 - 15%.

Hiệu quả của công trình:

Việc sử dụng được quặng tuyển ẩm đưa vào điều chế Supe lân đã giúp công ty Apatit Lào Cai không phải đầu tư hệ thống sấy, nghiền và kho chứa sản phẩm cũng như không phải đầu tư hệ thống vận chuyển chuyên dùng để vận chuyển quặng từ mỏ về Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.

Dây chuyền thiết bị sản xuất ổn định và vượt công suất thiết kế. Vẫn với các dây chuyền hiện tại có công suất thiết kế 500.000 tấn Supe lân/năm, mặc dù chưa được đầu lớn về thiết bị nhưng đến nay công ty đã có khả năng sản xuất được 800.000 tấn Supe lân/ năm.

Giảm được mức tiêu hao nguyên liệu, góp phần giảm giá thành sản phẩm.

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại bộ phận sấy, nghiền và bộ phận kho ủ.

II- Công trình: Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất và sử dụng phân bón đa yếu tố (NPK) ở miền bắc Việt Nam.

Nhóm tác giả công trình:

         KS. Nguyễn Quốc Lập; KS. Nguyễn Quốc Tuấn; KS. Nguyễn Duy Khuyến; KS. Nguyễn Văn Loan.

Công trình được Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam trao tặng giải Nhì Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2001.

          Phạm vi áp dụng:

Công trình đã được áp dụng vào sản xuất ổn định ở Công ty  Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao từ năm 1990 cho tới nay. Từ quy mô thủ công ban đầu với công suất 3.000 tấn/năm đến nay công ty đã có 4 dây chuyền sản xuất có thể nói là hiện đại nhất ở miền Bắc với tổng công suất 600.000 tấn/năm. Công trình này có thể áp dụng cho tất cả các cơ sở sản xuất phân bón NPK.

Hiệu quả kinh tế:

Làm thay đổi tập quán bón phân đơn riêng rẽ của nông dân sang dùng phân bón đa dinh dưỡng.

Khi bón phân NPK Lâm Thao cùng mức đầu tư với dùng phân đơn:

+ Tăng năng suất cây trồng từ 10-20%.

+ Nâng cao chất lượng nông sản.

+ Tăng khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt cho cây trồng.

+ Tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giảm chi phí thuốc trừ sâu.

+ Bảo vệ môi trường, cải tạo đất canh tác, nâng cao độ phì cho đất.

+ Góp phần xóa đói, giảm nghèo ở nhiều nơi, giảm phá rừng.

+ Góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

+ Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.

+ Đáp ứng nhu cầu cấp bách về phân bón cho nông dân, tiết kiệm được một lượng ngoại tệ để nhập khẩu.

III- Công trình: Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật đồng bộ để sản xuất axit sunfuric vượt công suất thiết kế tại Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.

Nhóm tác giả công trình:

         KS. Nguyễn Xuân Thúy; KS. Nguyễn Văn Loan; KS. Nguyễn Quốc Tuấn; KS. Tống Ngọc Tuyết.

Công trình đã được Liên hiệp các hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trao tặng Giải Nhất Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2002.

Nội dung cơ bản của công trình:

Dây chuyền Axit 2 có công suất thiết kế 120.000 tấn/năm, làm việc 330 ngày/năm, sản lượng 360 tấn axit/ngày. Theo thiết kế ban đầu của Liên Xô, nguyên liệu dùng để đốt lò KC-150 là quặng Pyrit nguyên khai được nhập khẩu từ Liên Xô, Trung Quốc, nhưng trong thực tế khi đưa dây chuyền vào hoạt động thì không có quặng nhập ngoại, chuyên gia Liên Xô đã thống nhất dùng quặng pyrit Giáp Lai đã qua tuyển rửa làm nguyên liệu để đốt lò tầng sôi KC-150.

Phạm vi áp dụng:

Công trình được áp dụng vào sản xuất tại Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao từ năm 1995 cho đến năm 2003, mang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật và xã hội rất lớn. Công trình này có thể áp dụng cho các cơ sở sản xuất axit có dây chuyền công nghệ đốt quặng pyrit trong lò tầng sôi cũng như các nhà máy luyện kim theo công nghệ đốt quặng sunfua trong lò KC.

Hiệu quả của giải pháp:

- Việc áp dụng giải pháp đã cho phép sử dụng được lò tầng sôi KC-150 để đốt hỗn hợp pyrit Giáp Lai và lưu huỳnh nguyên tố đạt sản lượng 370-380 tấn axit/ngày, vượt công suất thiết kế 360 tấn/ngày, góp phần tăng năng lực sản xuất Supe lân phục vụ nông nghiệp.

- Góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do:

+ Thu hồi được toàn bộ lượng axit rửa không phải trung hòa để thải ra mương thải như trước, nên đã khắc phục được hoàn toàn sự gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự phá hoại công trình nhà xưởng do lượng axit rửa trong nước thải gây ra.

+ Dây chuyền sản xuất ổn định nên việc khởi động lại dây chuyền do sự cố không còn nữa. Vì vậy, lượng SO2 và bụi xỉ theo hệ thống khởi động gây ô nhiễm môi trường khu vực dân cư lân cận đã được khắc phục hoàn toàn.

+ Do sử dụng hỗn hợp nguyên liệu nên hiện nay lượng xỉ thải ra bãi thải đã giảm được khoảng 3/4 (từ 280 tấn/ngày xuống còn 70 tấn/ngày), góp phần làm giảm nguồn ô nhiễm môi trường đất và nước của khu vực dân cư và đất canh tác quanh khu vự bãi xỉ, đồng thời góp phần giảm cường độ làm việc nặng nhọc và giảm thời gian tiếp xúc với môi trường độc hại cho người lao động, tạo điều kiện làm tốt công tác vệ sinh an toàn công nghiệp, môi trường Xanh - Sạch - Đẹp.

- Sử dụng được toàn bộ nguồn tài nguyên Pyrit trong nước thay cho nhập khẩu, góp phần tạo việc làm ổn định cho cán bộ công nhân viên Công ty mỏ Pyrit Giáp Lai cho tới năm 2003.

- Giảm cường độ lao động và cải thiện môi trường làm việc của người lao động.

- Áp dụng giải pháp đã góp phần đáng kể vào việc tăng  doanh thu và lợi nhuận của Công ty: doanh thu tăng từ 345 tỷ đồng năm 1994 lên 847 tỷ đồng  năm 2002 và lợi nhuận tăng tương ứng từ 12,8 tỷ đồng lên 38 tỷ đồng. Tổng lợi nhuận tăng thêm của Công ty từ 1995 đến 2002 là 291,4 tỷ đồng.

Đến năm 2003 do nguồn Pyrit đã hết nên Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã cải tạo dây chuyền công nghệ sản xuất axit sunfuric từ đốt quặng trong lò tầng sôi sang công nghệ đốt lưu huỳnh lỏng.

IV- Công trình: Nghiên cứu thiết lập quy trình công nghệ sử dụng quặng apatit tuyển ẩm không qua sấy để sản xuất Supe lân thương phẩm 16 - 16,5% P2O­5 hữu hiệu.

Nhóm tác giả công trình:

KS. Quách Đình Diệu; KS. Nguyễn Quốc Tuấn; KS. Nguyễn Bá Nhọn; KS. Phạm Khắc Toan; KS. Phạm Quang Huỳnh.

Công trình đã được Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam trao Giải Ba Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm .

Nội dung của công trình:

Trước khi có giải pháp: quặng tuyển phải sấy rồi trộn với quặng nguyên khai qua sấy nghiền thành hỗn hợp có độ ẩm 6-8 %, và sử dụng axit sunfuric nồng độ 71-73 %H2SO4.

Sau khi áp dụng giải pháp: Quặng tuyển ẩm không phải sấy mà sử dụng trực tiếp trộn với quặng nguyên khai qua sấy nghiền thành hỗn hợp có độ ẩm 11¸13%; Nồng độ axit sunfuric nâng lên 75-78 %.

Giá trị hiệu quả kinh tế - xã hội đã đạt được:

Công trình “ Nghiên cứu thiết lập qui trình công nghệ sử dụng quặng apatit tuyển ẩm không qua sấy để sản xuất supe lân thương phẩm 16-16,5 % P2O5 hữu hiệu” đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đó là giảm chi phí than, điện, nhân công, giảm ô nhiễm môi trường.

Cụ thể:

          + Giảm tiêu hao điện năng do dừng các hệ thống sấy quặng tuyển với tổng công suất thiết bị dừng là: 431 kw. Định mức điện giảm 1,35 kwh/tấn supe lân. Tổng cộng lượng điện giảm: 2.026.740 kwh.

          + Giảm được nhân công vận hành hệ thống sấy nghiền quặng tuyển ở 2 xí nghiệp supe là 32 lao động chuyển làm việc khác.

          + Tận dụng được thiết bị sấy quặng tuyển cũ chuyển sang sấy phụ gia cho sản xuất NPK mà không phải đầu tư mới với giá trị trên 3 tỷ đồng.

          + Giảm thiểu ô nhiễm môi trường về bụi do không phải sấy quặng tuyển.

          + Giảm lượng phát thải khí CO2 ra môi trường.

Giá trị làm lợi từ khi áp dụng giải pháp đến nay là: 8.028.310.538 đồng.