MỘT SỐ NÉT VỀ PHONG TRÀO SÁNG KIẾN TIÊT KIỆM
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2009
Trong
suốt quá trình xây dựng và phát triền, phong trào phát huy sáng kiến
cải tiến kỹ thuật luôn được duy trì thường xuyên, liên tục, được đông
đảo cán bộ CNVC-LĐ, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật trong công
ty hưởng ứng. Nhiều sáng kiến, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và
công nghệ mới đã góp phần giải quyết được những khó khăn, ách tắc trong
SXKD; tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả tiềm năng về vật tư, máy móc thiết
bị hiện có, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, cải thiện
điều kiện làm việc, môi trường lao động, cải tiến và đổi mới công tác
quản lý.
Đặc
biệt trong những năm gần đây công ty chú trọng đến công tác khoa học kỹ
thuật, đầu tư phát triển sản phẩm, đổi mới cải tạo thiết bị công nghệ
để nâng cao hiệu suất, giảm chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, hạ giá
thành, đồng thời cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động và giảm
thiểu ô nhiễm môi trường.
Để
xử lý chất thải đạt các tiêu chuẩn quy định của Luật Môi trường theo lộ
trình quy định của Chính phủ, công ty đã đầu tư xây dựng mới dây chuyền
axit 3 với công nghệ tiên tiến- tiếp xúc kép – hấp thụ 2 lần; Công ty
đã cải tạo chuyển đổi thành công 2 dây chuyền axit từ đốt pyrit sang đốt
lưu huỳnh lỏng, chấm dứt hoàn toàn chất thải rắn là xỉ pyrit từ năm
2003; Các dây chuyền axit 1 và dây chuyền axit 2 đã được cải tạo chuyển
đổi hoàn toàn sang công nghệ tiên tiến – tiếp xúc kép, hấp thụ 2 lần.
Trang bị hệ thống tự động DCS điểu khiển quá trình công nghệ để các dây
chuyền sản xuất hoạt động ổn định với năng suất cao, đảm bảo chất lượng
sản phẩm và môi trường tốt. Năm 2009 công ty đã hoàn thành dự án hệ
thống cung cấp nước sản xuất và xử lý tuần hoàn nước thải. Những năm
qua, ở các dây chuyền Supe các thiết bị thu hồi bụi, hệ thống bay ra môi
trường vừa tiết kiệm được nguyên, nhiên vật liệu. Bốn dây chuyền sản
xuất NPK có công nghệ tiên tiến với tính tự động hóa cao, nguồn ô nhiễm
bụi, khí, tiếng ồn, nước thải được xử lý triệt để, đảm bảo an toàn vệ
sinh công nghiệp và môi trường sinh thái. Trong tháng 6 năm 2010 công ty
đưa dây chuyền sản xuất phân lân nung chảy công suất 300.000 tấn/năm
vào hoạt động
Bảng tổng hợp số liệu sáng kiến
|
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
Tổng
|
|
Tổng số sáng kiến
|
252
|
251
|
207
|
167
|
171
|
1048
|
|
Tổng số người có sáng kiến
|
664
|
469
|
445
|
425
|
423
|
2426
|
|
Số tác giả nữ
|
165
|
117
|
102
|
86
|
79
|
549
|
|
Giá trị làm lợi (triệu đồng)
|
10905
|
11600
|
11527
|
10600
|
10324
|
54956
|
|
Tiền thưởng (triệu đồng)
|
817
|
852
|
1084
|
343
|
627
|
3723
|
|
Số người được Bằng LĐST
|
13
|
15
|
17
|
12
|
6
|
63
|
Một số giải pháp tiêu biểu trong các năm qua:
1-
“Nghiên cứu thiết lập qui trình công nghệ sử dụng quặng apatit tuyển ẩm
không qua sấy để sản xuất supe lân thương phẩm 16-16,5 % P2O5 hữu
hiệu”
Giải ba Giải thưởng sáng tạo Khoa học- Công nghệ Việt Nam năm 2007.
Giải Vàng tại Triển lãm sáng tạo quốc tế Seoul - Hàn Quốc năm 2008.
Tính mới của công trình:
Trước khi có giải pháp quặng tuyển ẩm phải sấy rồi trộn với quặng nguyên khai qua sấy nghiền thành hỗn hợp có độ ẩm 6¸8% và sử dụng axit sunfuric nồng độ 71¸73 %.
Sau
khi áp dụng giải pháp: Quặng tuyển ẩm không qua sấy sử dụng trực tiếp
trộn với quặng nguyên khai qua sấy nghiền thành hỗn hợp có độ ẩm 11¸13 %, nồng độ axit sunfuric nâng lên 75¸78%.
Phạm vi áp dụng và các địa chỉ khác đã áp dụng:
Công
trình đã được áp dụng có hiệu quả ở cả hai dây chuyền sản xuất supe của
Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao từ tháng 8 năm 2005
đến nay vẫn tiếp tục được duy trì.
Công trình có thể áp dụng đối với các dây chuyền sản xuất supe phốt phát đơn tương tự.
Hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được:
Giảm tiêu hao than do không phải sấy quặng tuyển 6,89 kg/tấn supe.
Giảm
tiêu hao điện năng do dừng các hệ thống sấy nghiền quặng tuyển với tổng
công suất các thiết bị dừng là: 431 KW. Định mức giảm 1,35 kwh/tấn
supe.
Giảm được nhân công vận hành hệ thống sấy nghiền quặng tuyển của 2 xí nghiệp supe là 32 lao động chuyển làm việc khác.
Tận
dụng được thiết bị sấy quặng tuyển cũ sang sấy phụ gia cho sản xuất NPK
mà không phải đầu tư mới với giá trị lên đến trên 3 tỷ đồng.
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường về bụi do không phải sấy quặng tuyển.
Giảm lượng phát thải khí CO2 ra môi trường.
2-
Sử dụng thiết bị trao đổi nhiệt 3011 của cụm tiếp xúc dây chuyền axit 2
cải tạo để nâng nhiệt độ khí SO2 vào lớp 4 đạt yêu cầu chế độ kỹ thuật,
đảm bảo hiệu suất chuyển hóa chung toàn máy.
Sau
khi xem xét dây chuyền đang sử dụng thiết bị trao đổi nhiệt ngoài số
3011 để hạ nhiệt độ hỗn hợp khí SO3 đi hấp thụ lần thứ nhất với tác nhân
làm nguội là không khí ẩm ngoài trời. Sau trao đổi nhiệt nguồn không
khí ẩm nóng lại được thải ra môi trường. Công ty đã cho áp dụng thay
nguồn không khí ẩm này bằng khí SO2 60oC sau tháp khử mù, vừa làm nguội
khí SO3 đi hấp thụ trung gian, vừa nâng nhiệt độ khí SO2 vào lớp 4. Các
trao đổi nhiệt 305, 3010 nâng nhiệt độ khí SO2 vào lớp 4 giữ nguyên.
Sau khi thực hiện, nhiệt độ khí SO2 vào lớp 4 đạt > 410 oC, hiệu suất
chuyển hóa toàn máy tiếp xúc đạt 99,6 % ( trước khi có giải pháp mức
chuyển hóa là 99%), khí SO2 thải ra môi trường đạt TCVN 5939:2005, đồng
thời không có khí ẩm nóng thải ra ngoài môi trường như trước đây. Thiết
bị này được vận hành ổn định từ tháng 3 năm 2006 đến nay.
Tổng giá trị làm lợi tính từ 16/3/2007 đến 30/6/2007: 936 triệu đồng.
3-
Nghiên cứu áp dụng vào sản xuất việc chuyển đổi vị trí lớp xúc tác 1 và
lớp xúc tác 2 của dây chuyền axit 3 cho nhau, tăng được sự làm việc
đồng đều của lớp xúc tác, giảm đốc độ tăng trở lực thiết bị, tăng năng
suất dây chuyền.
Căn
cứ vào cấu tạo thiết bị, Công ty cho thực hiện chuyển đổi lớp xúc tác 1
lên đỉnh tháp tiếp xúc ( vào vị trí lớp xúc tác 2), chuyển lớp xúc tác 2
xuống chân tháp ( vào vị trí của lớp xúc tác 1). Trên nguyên tắc chung
về sơ đồ công nghệ không thay đổi. Sau khi sáng kiến được thực hiện, do
hỗn hợp khí SO2 vào lớp 1 bằng ống công nghệ đi vào giữa đỉnh tháp, đi
qua tán phân phối khí rồi mới vào vuông góc với bề mặt lớp xúc tác 1,
nên sự làm việc của các vùng xúc tán trong lớp 1 là đồng đều và ổn định.
Hiệu
quả biểu hiện ra bằng thông số trở lực lớp 1 sau thời gian làm việc
tương ứng với trước cải tạo là thấp, rất nhỏ so với trước khi áp dụng
sáng kiến. Do độ tăn trở lực rất chậm, nên kéo dài được thời gian dây
chuyền hoạt động với năng suất cao. Sau khi đã áp dụng, dây chuyền đã
làm việc liên tục được 18 tháng với sản lượng cao, với sản lượng dây
chuyền chỉ giảm từ 130 tấn/ ngày xuống 125 tấn/ ngày.
4-
Nghiên cứu giải pháp xử lý giảm thiểu môi trường khí thải đạt tiêu
chuẩn môi trường TCVN 5939:2005 và nâng cao sản lượng sản xuất axit
sunfuric tại dây chuyền sản xuất axit 3.
Trên
cơ sở thực tế khí thải ra môi trường không đạt thiết kế và vượt tiêu
chuẩn cho phép của luật môi trường, đội ngũ CBKT của Công ty đã nghiên
cứu xem xét lại tổng thể về công nghệ của dây chuyền, phân tích các
nguyên nhân có thể dẫn đến hàm lượng khí SO2 thải ra môi trường thường
xuyên vượt quá tiêu chuẩn cho phép và cao hơn tính toàn lý thuyết theo
hiệu suất chuyển hóa đã đạt được. Qua số liệu công nghệ: độ hòa tan của
khí SO2 trong axit sunfuric phụ thuộc vào nhiệt độ, nghiên cứu sơ đồ
công nghệ bộ phận tiếp xúc, hấp thụ và bằng số liệu thử nghiệm đã kết
luận được nguyên nhân chính đó là: do hiện tại các tháp sấy, hấp thụ
trung gian, hấp thụ cuối chung nhau 01 thùng chứa axit hồi lưu nên đã
xuất hiện việc khí SO2 trong hỗn hợp khí sau lớp xúc tác 3 hòa tan vào
axit ở tháp hấp thụ trung gian, sau đó lại nhả ra ở tháp hấp thụ cuối và
ra ống khói thải ra môi trường. Vì vậy chúng tôi đã đề ra giải pháp và
chỉ đạo kiên quyết việc thực hiện chế tạo lắp đặt thêm 01 thùng chứa
axit hồi lưu dung tích 35 m3 và 01 bơm 160/49 tách riên cho tháp hấp thụ
cuối. Thùng chứa axit hồi lưu trước đây chỉ dùng cho tháp sấy, hấp thụ
trung gian, ở đây khí SO2 hoài tan sẽ chỉ tuần hoàn trong dây chuyền mà
không ảnh hưởng đến môi trường. Tại tháp hấp thụ cuối, hỗn hợp khí SO3
vào tháp đã đạt được hiệu suất chuyển hóa > 99,6 %; Nên lượng khí SO2
còn lại không đáng kể, hầu như không có khí SO2 hòa tan vào dung dịch
axit, nên không có SO2 nhả theo ống khói thải ra ngoài môi trường.
Hiệu quả giải pháp:
Sau
khi áp dụng giải pháp trên, dây chuyền đã vận hành đúng bản chất công
nghệ của nó, đường pha khí vào ống khói trước đây đã được cắt bỏ hoàn
toàn, phân tích hàm lượng SO2 trong khí thải ra môi trường luôn ổn định
và đạt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường khí thải công nghiệp TCVN
5939:2005 (£ 1.500 mg SO2/m3) khi sản lượng dây chuyền đạt 132 tấn axit/ ngày, vượt công suất thiết kế ( theo thiết kế 120 tấn axit/ ngày).
|
|
Trước khi pha khí
|
Khi pha khí
|
Khi áp dụng
|
|
Hàm lượng khí thải (mg SO2/m3 khí thải)
|
2.500 – 2.700
|
1.700 – 2.700
|
1.200 – 1.400
|
|
Hiệu suất chuyển hóa (%)
|
99,5 – 99,6
|
99,5 – 99,6
|
99,5 – 99,6
|
Ngoài
hiệu quả kinh tế do giảm hàm lượng SO2 phát thải ra môi trường từ 2.500
– 2.700 mg/m3 xuống còn < 1.500 mg/m3, thu lại để tạo ra sản lượng
axit H2SO4 trong khi không tăng thêm chi phí về nguyên liệu.
Quan
trọng nhất là giải pháp mang lại ý nghĩa to lớn về mặt môi trường, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, vấn đề môi trường vô cùng quan trọng
và bức thiết, có ý nghĩa sống còn với các doanh nghiệp.
5-
Nghiên cứu sử dụng ure hóa lỏng phun bọc sản phẩm trong sản xuất phân
bón NPK nhằm hạ giá thành và hạn chế đóng cứng sản phẩm.
Hiệu quả kinh tế kỹ thuật của giả pháp
Sau
khi đưa ra áp dụng đã giải quyết cơ bản tính đóng cứng, đóng cục của
sản phẩm NPK, nâng cao uy tín chất lượng sản phẩm NPK của Công ty ( từ
khi đưa vào áp dụng cho đến nay chưa thấy có khách hàng khiếu kiện về
tính đóng cứng, đóng cục của sản phẩm NPK).
Giảm được diện tích kho, bãi chứa.
Có
thể xuất bán thẳng NPK sau khi sản xuất ra phương tiện cho khách hàng,
giảm được các chi phí về nguyên công cho số NPK đã được xuất bán thẳng
theo qui trình sản xuất đã được áp dụng trước đây: xếp lưu lần 1 sau khi
đã sản xuất ra, lăn vần đạp sau 03 ngày, vận chuyển, bốc lên phương
tiện, bốc xuống, xếp lưu kho…
Giảm được 01 lần lăn vần đập đối với toàn bộ lượng sản phẩm NPK sản xuất ra.
6- Giải pháp kỹ thuật để tận dụng lại nước ngưng bộ phận máy phát điện cấp lại vào khỉ khí nồi hơi dây chuyền Axit số 2.
Trước
kia chỉ có một phần nước ngưng được đưa vào hệ thống làm mát của bộ
phận máy điện, còn lại được thải bỏ ra mương. Nay lượng nước này được
đưa ngay trở lại vào bình khử khí của nồi hơi ~ 12 m3/h. giảm lượng nước
mềm phải bổ sung thêm từ bộ phận lọc nước hóa học. giảm thiểu chi phí
sử dụng nước mềm và phí nước thải.